Phát triển ngành công nghiệp đất hiếm tại Việt Nam: Hiện trạng, rào cản công nghệ và giải pháp chiến lược

 23:23 14/10/2025

Bài báo trình bày tổng quan hiện trạng khai thác, chế biến và ứng dụng đất hiếm tại Việt Nam, đồng thời phân tích các rào cản kỹ thuật, công nghệ và chính sách trong phát triển ngành công nghiệp đất hiếm. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định các thách thức chính đang cản trở sự phát triển chuỗi giá trị đất hiếm tại Việt Nam, đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn. Phương pháp nghiên cứu dựa trên tổng hợp tài liệu, phân tích so sánh, kết hợp đánh giá định tính các yếu tố kỹ thuật – công nghệ hiện nay. Kết quả cho thấy, Việt Nam có tiềm năng tài nguyên lớn nhưng còn thiếu công nghệ phân tách hiện đại, chưa hình thành chuỗi giá trị khép kín và thiếu chính sách đồng bộ hỗ trợ phát triển. Bài báo đề xuất ba nhóm giải pháp gồm: hoàn thiện công nghệ chế biến; xây dựng thể chế và chính sách phát triển; tổ chức lại chuỗi cung ứng đất hiếm theo hướng tích hợp và bền vững.

Nghiên cứu công nghệ tuyển nổi quặng apatit loại III tại khai trường 27, 28, 29 xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai

 23:16 14/10/2025

Nghiên cứu này tập trung vào công nghệ tuyển nổi quặng apatit loại III tại các khai trường 27, 28, 29 thuộc khu vực Bản Vược – Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Loại quặng này đặc trưng bởi hàm lượng P2O5 thấp (12–16%) và chứa nhiều khoáng tạp silicat, cacbonat và sét, làm cho quá trình làm giàu trở nên khó khăn và ít được khai thác hiệu quả. Hai mẫu đại diện (M1 và M2) được phân tích bằng XRD, kính hiển vi phân cực, AAS, ICP-OES và phân bố kích thước hạt. Kết quả cho thấy phần lớn P2O5 tập trung ở cấp hạt mịn <0,045 mm, đòi hỏi phải nghiền mịn để giải phóng khoáng vật apatit. Các thí nghiệm tuyển nổi được tiến hành nhằm xác định sơ đồ và thông số công nghệ tối ưu. Sơ đồ đề xuất gồm 1 tuyển chính – 3 tuyển tinh – 1 tuyển vét, với các điều kiện tối ưu: độ mịn nghiền 85–90% cấp hạt 32% và hiệu suất thu hồi 83–85%. So với các nghiên cứu trước tại Cam Đường và Tằng Loỏng (hiệu suất thường 70–75%), kết quả này cho thấy mức cải thiện rõ rệt và tương đương với một số công nghệ tuyển nổi quốc tế. Điểm nổi bật là việc sử dụng thiết bị và thuốc tuyển sẵn có trong nước, giúp tăng tính khả thi, giảm phụ thuộc nhập khẩu. Nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa khoa học khi bổ sung dữ liệu về quặng apatit loại III tại khu vực mới, mà còn mang ý nghĩa thực tiễn trong việc tận thu nguồn quặng nghèo, giảm áp lực khai thác quặng giàu và đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cho sản xuất phân bón trong nước.

Tin xem nhiều

Liên kết

thuvien.qui.edu.vn
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây